Điều kiện Tự nhiên - Xã hội PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ ba, 13 Tháng 10 2009 09:23

DỰ ÁN DUY TRÌ, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN DI SẢN VĂN HOA DÂN TỘC GỐM BÀU TRÚC

Điều kiện Tự nhiên - Xã hội

1.    Điều kiện tự nhiên.

Thôn Bàu Trúc nằm chung trên tọa độ địa lý tỉnh Ninh Thuận ở giữa vĩ tuyến 11018 và 12002, giữa đông kinh tuyến 108035 và 109015. Thôn Bàu Trúc nằm cạnh quốc lộ 1A, cách thị xã Phan Rang 9km về hướng Nam, phía nam giáp thị trấn Phú Quý, phía đông giáp Quốc lộ 1A và phía tây giáp đường sắt xuyên Việt.

Nằm chung trên một địa phận, thôn Bàu Trúc cũng cùng chung với khí hậu Ninh Thuận. Ở đây có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11 và mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau. Trữ lượng mưa thấp, chỉ mưa 60 ngày trong thời gian 3 tháng trên 1 năm.

 

Trữ lượng mưa trung bình hàng năm rất thấp  695mm/năm. Nhưng do địa hình là một lòng chảo được bao quanh bởi những dãy núi dựng đứng nên mùa mưa mặc dù mưa ít nhưng lại thường xuyên gây ra lũ lụt. Ngược lại, mùa khô thì rất nóng kéo dài đến 9 tháng. Nhiệt độ trung bình là 290C – 330C. Lượng bức xạ lớn, lượng bốc hơi gấp 2 lần lượng mưa. Độ ẩm 80,3% hàng năm . Mùa khô thường có gió, từ trung tuần tháng 10 đến tháng 4 dương lịch có gió mùa Đông Bắc và từ trung tuần tháng 4 dương lịch đến tháng 10 năm sau có gió Tây Nam. Hai ngọn gió trên, hàng năm đem lại nhiều mưa cho các tỉnh trong toàn quốc nhưng đến Ninh thuận bị chặn bởi các ngọn núi cao chung quanh làm cho ngọn gió yếu dần, tạo cho Ninh Thuận khí hậu khô và nóng. Nằm trên vị trí bán sơn địa, thôn Bàu Trúc nằm ở vùng cuối của vùng đồng bằng Phan Rang, chỉ cách chân núi khoảng 5 km và cách bờ biển 5 km theo đường chim bay. Do vậy, mặc dù đất đai ở Ninh Thuận là khô cằn bạc màu bởi nắng và gió nhưng ở thôn Bàu Trúc có đồng bằng nằm trong lòng chảo được phù sa bồi tụ lâu năm tạo thành các lớp sâu ở các triền sông lớn. Chính nơi đây đã hình hình thành mỏ đất sét mịn màng có độ dẽo cao. Bên dưới lòng sông, sau những trận lũ lụt, vào mùa khô, nước cạn dần còn để lại những dải cát trắng, hạt nhỏ mịn màng. Đây là nguyên liệu cần thiết, chủ yếu (đất sét, cát) để tạo thành gốm Chăm Bàu Trúc mà không nơi nảo ở Ninh Thuận này có.

Điều kiện địa lý khí hậu, đất đai môi sinh như thế đã tạo cho người Chăm Bàu Trúc vừa làm nông vừa làm nghề gốm.

2.    Điều kiện xã hội

2.1     Thành phần dân số dân cư:

Theo số liệu thống kê năm 1999 dân số Ninh Thuận hơn 500 ngàn người, trong đó có 52 ngàn người Chăm, chiếm 10,8% dân số toàn tỉnh, riêng thôn Bàu Trúc là một làng trong tổng số 22 làng (Paley) của người Chăm Ninh Thuận. Thôn Bàu Trúc có tất cả 2.748 người/ 460 hộ. Trong đó có 85 hộ người Kinh với dân số 460 người. Đất thổ cư có 19 ha, bình quân 144 người/ km2. Thôn Bàu Trúc có dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào. Dân số nam trong độ tuổi lao động là 1.052 người, chiếm 38,28% và nữ là 1.052 người, chiếm 42,52%.

Trẻ em từ 5-10 tưổi trở lên là 1.640 người, trong đó nam chiếm 781 người, nữ chiếm 859 người.
Trẻ em dưới 5 tuổi là 500 người.

Người già từ 60-65 tuổi là 130 người.

Trong tổng số dân trên có 3 Đảng viên, 30 Đoàn viên, 14 giáo viên cấp I,II; 2 bác sĩ, 2 cán bộ nghiên cứu văn hóa Chăm và 1 đại biểu quốc hội khóa X…

2.2     Trình độ văn hóa:

Học sinh cấp I có 560 em, chiếm 20% dân số.
Học sinh cấp II có 32 em, chiếm 1,16% dân số.
Học sinh cấp III có 12 em chiếm 0,43% dân số.
Đại học 10 em, chiếm 0,36% dân số.
Tổng số người mù chữ: 315 người, trong đó tuổi xoa mùa 219 người.

Nằm trên địa bàn thôn Bàu Trúc còn có một trường phổ thông cơ sở Phước Dân 3 (trường cấp xã) có 10 phòng học, 600 học sinh. Và một trường cấp III An Phước (trường cấp huyện) có 20 phòng học, 1.000 học sinh. Đây là điều kiện thuận lợi cho con em làng gốm Bàu Trúc có điều kiện nâng cao trình độ học vấn.
Điều kiện tự nhiên và xã hội của làng gốm Bàu Trúc rất thuận lợi cho việc phát triển nghề gốm. Ở đây nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên, khí hậu khô nóng, ít mưa thuận lợi cho việc làm gốm. Làng gốm lại gần đường lưu thông rất thuận lợi cho việc lưu thông gốm trên thị trường. Ở đây còn có đất rộng người thưa (144 người/ km2); thành phần dân tộc tôn giáo thuần nhất (dân số người Kinh chiếm không đáng kể). Dân số nữ chiếm nhiều hơn dân số nam là 5,24%, đây là lực lượng làm gốm chính thuận lợi để phát triển nghề gốm - một nghề rất cần bàn tay khéo léo của nười phụ nữ. Tuy nhiên người dân Bàu Trúc trình độ học vấn còn thấp, trong số 315 người mù chữ thì chủ yếu là phụ nữ, thợ làm gốm. Do vậy, vấn đề này rất khó khăn trong việc đào tạo, nâng cao tay nghề, mở rộng , phát triển gốm Chăm theo hướng công nghiệp hóa.

3. Đời sống con người Làng Bàu Trúc:

3.1 Đời sống kinh tế:

Hoạt động kinh tế của làng Chăm Bàu Trúc chủ yếu làm nghề nông và làm gốm. Hiện nay diện tích canh tác đất nông nghiệp là 200 ha, bình quân 700 m2/ người/ năm. Trong đó có 19 ha trồng màu như ngô, đậu, nho…còn lại chủ yếu là trồng lúa nước hai vụ trong một năm. Tuy vậy ở đây nghề nông thu nhập thấp do nông dân thiếu vốn, đất đai bạc màu, hàng năm thường xảy ra lũ lụt… Cho nên để tăng thêm thu nhập trong gia đình, giải quyết thời gian nhàn rỗi trong nông nghiệp, người Chăm Bàu Trúc còn làm gốm. Hiện nay theo số liệu điều tra có đến 95% số hộ làm nghề gốm và chủ yếu do phụ nữ đảm nhận. Ngoài ra trong lúc nông nhàn người đàn ông Chăm Bàu Trúc còn giúp phụ nữ làm gốm trong các khâu đào đất sét, tìm nguyên liệu để nung gốm, tiêu thụ gốm trên thị trường…

Nói chung trong hai nghề, nghề nông và nghề gốm của người Chăm Bàu Trúc có sự phân công rõ rệt. Nghề nông do đàn ông đảm nhiệm và nghề gốm do phụ nữ làm là chính. Ngày nay trong cơ chế thị trường, sự xâm nhập ồ ạt của hàng công nghiệp đã đẩy gốm Chăm Bàu Trúc đến tình trạng điêu đứng, thị trường gốm Chăm bị thu hẹp… Từ đó làm cho đời sống kinh tế người Chăm Bàu Trúc vốn khó khăn lại khó khăn hơn.