Nghệ thuật ca múa nhạc dân gian Chăm, những giá trị cần bảo tồn và phát huy PDF. In Email
Thứ tư, 14 Tháng 10 2009 00:26
Chỉ mục bài viết
Nghệ thuật ca múa nhạc dân gian Chăm, những giá trị cần bảo tồn và phát huy
Tiếp Theo
Tất cả các trang

TS Phan Quốc Anh (Bài tham gia hội thảo trong ngày hội VHDT tại Phú Yên)

     Lời mở

    Nghệ thuật dân gian của mỗi dân tộc được coi như những viên ngọc đã được sàng lọc, chau chuốt lâu đời qua thời gian, trong không gian và mang đậm tính bản sắc. Đối với dân tộc Chăm cũng vậy, nghệ thuật dân gian Chăm giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Chăm. Vì vậy, làm tốt công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân gian Chăm là một trong những biện pháp có hiệu quả góp phần ổn định đời sống xã hội Chăm.

Nếu như khu di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn hấp dẫn các nhà khoa học và khách du lịch bởi những phế tích của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm pa cổ thì vùng đất Ninh - Bình Thuận (Panduranga) lại hấp dẫn ở góc độ văn hoá phi vật thể, bởi đây là một bảo tàng sống của cộng đồng người Chăm, nơi đang lưu giữ di sản văn hóa dân gian Chăm đặc sắc, đặc biệt là nghệ thuật ca múa nhạc.

Trong suốt quá trình lịch sử, người Chăm đã sáng tạo nên một nền văn hóa phát triển cao, một nền nghệ thuật dân gian đậm nét riêng. Ngoài những giá trị văn hóa vật thể như hệ thống đền đài, tháp cổ, những bức phù điêu, tượng đá, bia ký rải rác khắp miền Trung, cộng đồng người Chăm hiện nay đang lưu giữ những giá trị văn hóa phi vật thể đa dạng, phong phú. Trong bài viết nhỏ này, tác giả chỉ xin đề cập đến nghệ thuật ca, múa, nhạc dân gian Chăm và ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Chăm ở Ninh – Bình Thuận.

     Nghệ thuật ca, múa, nhạc dân gian trước đây chỉ tồn tại trong các lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng. Vì vậy, hầu như nó không được phổ biến, phát triển và bị rơi rụng, mai một đi nhiều. Sau khi đất nước được giải phóng, với đường lối chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng về văn hóa dân tộc, văn hóa Chăm bắt đầu được chú trọng đầu tư sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy. Ngoài việc kiểm kê, trùng tu, bảo tồn hệ thống đền đài, tháp cổ thì văn hóa phi vật thể, trong đó có nghệ thuật dân gian cũng được sưu tầm nghiên cứu và phát triển. Hệ thống lễ hội được khôi phục và kèm theo đó là sự phục hồi các đội nhạc lễ, múa lễ và hát lễ. Từ đây, nghệ thuật dân gian Chăm không chỉ bó hẹp trong các nghi lễ mà đã bước ra đời sống sinh hoạt văn hóa văn nghệ quần chúng cùng với sự hình thành các đội ca, múa, nhạc ở các palay Chăm trong các phong trào xây dựng hợp tác xã, các đoàn thể và phong trào xây dựng làng văn hóa. Các nhà nghiên cứu nghệ thuật sớm thấy được những giá trị quí báu của nghệ thuật dân gian Chăm. Ngay từ đầu những năm 80, viện Âm nhạc - múa Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Văn hóa thông tin tỉnh Thuận Hải triển khai thực hiện các công trình nghiên cứu về âm nhạc, múa dân gian Chăm. PGS.TS. Ngọc Canh với cuốn “Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm” đã thu thập và hệ thống các tư liệu về nghệ thuật biểu diễn dân gian Chăm. Sở VHTT Ninh thuận năm 1995 đã cho xuất bản cuốn "Nhạc cụ truyền thống Chăm". Việc thành lập Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm, Đoàn nghệ thuật dân gian Chăm Ninh Thuận và đội văn nghệ Chăm huyện Bắc Bình…đã như một luồng sinh khí mới thổi vào hồn nghệ thuật Chăm, tạo điều kịên thuận lợi cho việc sưu tầm, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả văn hóa truyền thống Chăm vào sự nghiệp văn hóa nghệ thuật đương đại.

1. Vài nét về nghệ thuật ca múa nhạc dân gian Chăm

    1.1. Âm nhạc có vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người Chăm. Âm nhạc luôn gắn chặt với múa trong các nghi lễ dân gian và nghi lễ tôn giáo. Trước đây, âm nhạc và múa đều mang nặng tính thiêng, chỉ để phục vụ nghi lễ, không được sử dụng làm chức năng vui chơi giải trí có tính chất trần tục.
Hệ thống nhạc cụ Chăm tương đối phong phú và đủ các bộ cho một dàn nhạc. Bộ gõ có trống baranưng, trống ghi năng, chiêng, chũm chọe, đàn đá, mõ, kàrồng (dây lục lạc); bộ dây có đàn ka nhi (nhị mu rùa), đàn chămpi, bộ hơi có kèn saranai, tù và bằng sừng trâu, khèn bầu, sáo… Các vị chức sắc giải thích rằng những nhạc cụ chính trong dàn nhạc lễ Chăm là biểu tượng của một thể thống nhất các bộ phận của vị thần. Trong đó, kèn Saranai là biểu tượng cho phần đầu, trống Paranưng là phần bụng (ôm vào bụng ngồi vỗ), đôi trống ghi năng là hai chân (luôn để bắt chéo và ngồi biểu diễn, một tay vỗ vào mặt trống phía trên và một tay cẩm dùi để đánh phía dưới).

Nếu so sánh với những nhạc cụ thể hiện trên các mảng điêu khắc của người Chăm còn lại đến hôm nay, chúng ta thấy đã thất truyền một số nhạc cụ như sáo dài nhiều lỗ, đàn “Harpe” , trống lớn, trống nhỏ Hagar1. Âm nhạc Chăm có tiết tấu rất phong phú, chúng tôi đã sưu tầm, ký âm và thống kê được 75 điệu trống Ghinăng, có các tiết tấu nhanh, thuận phách và nghịch phách, sôi nổi bốc lửa nhưng cũng có những tiết tấu chậm, trữ tình, tự sự.

Người Chăm đang lưu giữ một kho tàng dân ca với những làn điệu, cung bậc có quan hệ mật thiết với dân ca người Việt và các làn điệu dân ca của các dân tộc sống cộng cư, cận cư khác. Nhiều điệu hát trữ tình, đằm thắm như “Thay mai”(Ai đến phía xa), “Ainich lo”, “Lekdiphik”, hay những làn điệu như “Dohdamdara” (hát đối đáp), Klaymrailopan (sợi chỉ đủ màu) đều mang những âm hưởng trữ tình, đặc sắc. Người Chăm còn có các làn điệu Ariya, là hình thức hát trường ca theo dạng kể chuyện, hát lối bằng thơ và có một kho tàng các làn điệu hát ru. Kho tàng nhạc lễ, hát lễ được các tu sĩ Balamôn lưu truyền và hát ở các nghi lễ, đây là nhạc lễ có nguồn gốc tôn gíáo Balamôn từ ấn Độ xa xưa: “Trong kinh VêĐa từ thế kỷ XX trước công nguyên có "Samma Vêđa" là tập ca khúc dùng để hát xướng khi cúng bái, tổng cộng 1549 bài, nội dung chủ yếu của Phuốc Vêda là nói rõ trong khi cúng tế nên dùng các thi ca này và tiến hành cúng tế như thế nào"2.

    1.2. Người Chăm có nền nghệ thuật múa dân gian đặc sắc. Trong nghệ thuật múa dân gian Chăm, múa “thiêng” chiếm giữ một vị trí quan trọng. Thậm chí, có cả một hệ thống lễ hội mang tên là lễ múa như: Rija Nưgar – lễ múa xứ sở đầu năm; lễ Rija Harei – lễ múa ban ngày; Lễ Rija dayau – lễ múa ban đêm; Lễ Rija praung – lễ múa lớn. Hầu hết các lễ hội Chăm đều có sự tham gia của các vũ sư như Ong Kaing (ông bóng), bà Muk pajow (bà bóng khu vực tôn giáo), bà bóng Muk Rija (bà bóng của dòng họ – bản thân tên gọi chức sắc cũng đã là bà múa: Rija trong tiếng Chăm có nghĩa là múa).

Những phong cách múa truyền thống Chăm còn thể hiện trên các mảng điêu khắc như Vũ nữ Trà Kiệu, Apsara và các tượng thần ấn Độ giáo như Siva, Uma, Brahma, Visnu… Các nhà biên đạo đã từng bước nghiên cứu những động tác múa cơ bản của múa dân gian, múa lễ Chăm và sử dụng vào các tác phẩm múa và gọi đó là múa cung đình. Tuy nhiên, để hiểu và để có những tác phẩm múa đích thực phát triển từ tâm hồn Chăm, các nhà biên đạo cần đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu tín ngưỡng của những điệu múa thiêng như các điệu múa phồn thực cầu mưa trong lễ Rija nưgar, múa lên đồng đạp lửa của ông bóng (On kaing), bà bóng (Muk rija và Muk Pajau), múa chèo thuyền (Po tanghoh) trong các nghi lễ như Rija Nưgar, Rija praung, Rija djau, Rija haray v.v...Tiếc rằng, cho đến nay, chưa có một nhà biên đạo múa nào nghiên cứu sâu và phát triển các điệu múa thiêng trong nghi lễ của người Chăm.

Ngoài những điệu múa thiêng, người Chăm còn có những điệu múa sinh họat, hội hè. Múa quạt là điệu múa phổ thông mà bất cứ thiếu nữ hay phụ nữ Chăm nào cũng biết múa. Các vũ nữ dùng những chiếc quạt vải có rua nhiều màu sắc và khăn dài, tượng trưng cho những cánh chim như những điệu múa Piđiềng (chim công), Kamang (galôi), Marai (chim trĩ)… Múa Chăm luôn đi đôi với âm nhạc, tên các tiết điệu trống đồng thời cũng là tên các điệu múa. NSND Đặng Hùng đã tổng kết: "Múa và âm nhạc Chăm luôn đồng điệu với nhau giữa động tác và nhịp trống, điệu nhạc Piđiềng thì có động tác múa Piđiềng, điệu trống Patra thì có điệu múa Patra, điệu trống Tiong thì có múa Tiong"2.
 
2. Vài nét về sự phát triển nghệ thuật ca múa nhạc dân gian Chăm
 
    2.1. Với đường lối văn hóa, văn nghệ đúng đắn của Đảng, những giá trị văn hoá dân gian Chăm đã được sưu tầm, bảo tồn và phát huy. Các Đoàn nghệ thuật ca múa nhạc chuyên nghiệp từ trung ương đến các tỉnh miền trung như Ninh Thuận, (Biển Xanh) Bình thuận, Hải đăng (Khánh Hòa), Sao biển (Phú yên), Chim Yến (Quảng Ngãi) đều có sử dụng chất liệu ca múa nhạc dân gian Chăm. Sự hình thành Đoàn nghệ thuật dân gian Chăm Ninh thuận, đội văn nghệ Chăm huyện Bắc Bình với những nghệ nhân, diễn viên người Chăm là điều kiện tốt để khai thác bảo lưu kho tư liệu quí giá này, làm nơi sưu tầm khai thác và cung cấp tư liệu ca múa dân gian cho nghệ thuật chuyên nghiệp. Nhà biên đạo múa Đặng Hùng là người có công đầu trong việc khai thác chất liệu múa dân gian Chăm và chuyên nghiệp hóa ngôn ngữ múa dân gian. Ông trở thành Nghệ sĩ Nhân dân nhờ trọn đời gắn bó với nghệ thuật múa Chăm. Nhiều nhà biên đạo, nhạc sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ biểu diễn đã thành danh từ bầu sữa văn hóa dân gian Chăm như biên đạo Thọ Thái, biên đạo, NSƯT Thu Vân, ca sĩ, NSƯT Minh Mẫn, ca sĩ NSƯT Kim Hương v.v…Nhiều nhạc sĩ đã thành công trong việc sử dụng các cung bậc, âm hưởng của âm nhạc dân gian Chăm để làm chất liệu sáng tác như nhạc sĩ Amư Nhân, Hoài Sơn, Phan Quốc Anh v.v… và gặt hái những thành công nhất định.